a. Thủ tục:
Các ngân hàng khác nhau và các khoản tín dụng ở từng loại khác nhau cũng có những thủ tục cụ thể khác nhau. Do vậy để vay các cá nhân phải thỏa mãn được các qui định này sao cho ngân hàng nắm được những thông tin nhất định và theo một tiêu chuẩn nhất định. Thường thì các thủ tục do các ngân hàng qui định bao gồm:

– Đơn xin vay: là một lời đề nghị một khoản tín dụng định kỳ, vãng lai hoặc thẻ tín dụng, cùng với mục đích và thời hạn hoàn trả.
– Các tài liệu liên quan tới thông tin về người vay và thuyết minh khoản tín dụng như:
+ Tài liệu pháp lý: Quốc tịch, CMND, hộ khẩu,…
+ Các tài liệu thông tin: nghề nghiệp, nguồn thu nhập, mức thu nhập, thu nhập hàng tháng, tình trạng gia đình, học vấn, …
+ Các tài liệu thuyết minh khoản tín dụng: nhu cầu chi phí; mức vồn tự có; nhu cầu tài trợ (tổng số và chia các kỳ hạn… ), tài sản thế chấp, vật cầm cố, cam kết bảo lãnh hoặc các bảo đảm khác như tiền gửi hoặc vàng…
b. Trình tự xét duyệt cho vay:
Các yếu tố mà ngân hàng xem xét sau khi đã nhận được các thủ tục hợp lệ gồm:
– Năng lực vay của khách hàng:
Ngân hàng chỉ thực hiện quan hệ tín dụng tiêu dùng với những cá nhân, khi họ đủ các yếu tố pháp lý. Nghĩa là những cá nhân không thuộc các loại sau:
+ Những người vị thành niên: những người này không được vay dưới mọi hình thức bởi lẽ mọi yêu cầu đòi thanh toán nợ đối với họ đều không có giá trị.
+ Người bị truy cứu trách nhiệm hình sự đang chấp hành án: Theo luật những người này không được hưởng tín dụng khi tòa án chưa ban lệnh phục hồi.
+ Người rối loạn tâm thần: là những cá nhân không hiểu biết gì về bản chất của giao dịch tín dụng do vậy ngân hàng không cấp tín dụng cho họ.


  • Các yếu tố khác:

Sau khi năng lực pháp lý của người vay được khẳng định, các yếu tố liên quan tới việc phê duyệt khoản tín dụng gồm:
+ Độ tin cậy của người vay. Yếu tố này rất khó đong, đếm. Tuy nhiên một vài tiêu thức cũng nói lên điều này: hồ sơ quá khứ của khách hàng cho biết thu nhập và chi tiêu bình quân, thói quen chi tiêu, chất lượng thanh toán séc, quan hệ vay trả, số lượng giao dịch; Thông qua thông tin trao đổi với khách hàng, thông qua thủ tục vay hoặc thông tin bên ngoài hay giới thiệu của 1 khách hàng khác đánh tin cậy.
+ Mục đích tín dụng: khoản vay tính dụng được cấp cho các mục đích hợp lý. Ngân hàng sẽ không tài trợ cho những mục tiêu như: không hợp pháp, đầu cơ hoặc không nêu được lý do vay mượn
+ Năng lực hoàn trả: đánh giá khả năng tương lai người vay có các nguồn tài chính để trả hay không hoặc cao hơn, đánh giá tiềm năng của người vay nếu khoản tín dụng có vần đề xảy ra. Khả năng này được đánh giá bằng: tuổi đời, hoàn cảnh gia đình, học vấn, nghề nghiệp, sức khỏe, thụ nhập và sự ổn định của thu nhập.
+ Các đảm bảo tín dụng: áp dụng đối với các khoản tiêu dùng định kỳ và đóng vai trò như nguồn thu nợ có tính cách bảo hiểm. Đảm bảo vững chắc nhất vẫn là nhân cách năng lực hoàn trả của người vay. Các đảm bảo có thể gồm: bất động sản, các chứng khoán, các cam kết bảo lãnh, đảm bảo tiền gửi, các đảm bảo khác
+ Số lượng và kỳ hạn các khoản tín dụng.
c. Theo dõi nợ và thu nợ:
– Theo dõi nợ:
Dưới hình thức nào đi nữa, việc theo dõi khoản tín dụng đã cấp là cần thiết. Quá trình này được tiến hành bằng cách định kỳ (6 tháng hoặc 1 năm 1 lần) hay đột xuất tùy vào biểu hiện của khách vay. Việc theo dõi này đem lại cho ngân hàng hàng loạt các thông số cần thiết nhằm xử lý kịp thời với từng tình huống khi không quá muộn, đó là:
+ Chất lượng điều hành tài khoản
+ Sự ổn định về tài chính của người vay
+ Mục đích cho vay có được chấp hành không
+ Các khoản đảm bảo
+ Tiến độ trả nợ
+ Diễn biến dư nợ trên tài khoản vãng lai
+ Cần điều chỉnh các mức tín dụng hay không …
Quá trình theo dõi này được tiến hành qua việc ngân hàng yêu cầu cung cấp thông tin từ khách hàng, và nếu thông tin sai lạc hoặc không trung thực, ngân hàng có quyền thực hiện các chế tài.
– Thu nợ:
Tùy theo hình thức cho vay khách hàng cá nhân mà quá trình thu nợ diễn ra khác nhau. Mức thu được áp dụng với các loại phí là: tiền gốc, lãi và các chi phí khác liên quan tới dịch vụ ngân hàng (hoa hồng, phí dàn xếp hay cam kết…)
Khi khoản tín dụng bị đặt vào tình trạng có vấn đề khi đó giải pháp mang tính nguyên lý cũng được ngân hàng vận dụng. Tuy nhiên ở góc độ cụ thể loại tín dụng cũng có những đặc thù riêng.
Tham khảo thêm các bài viết khác:
+ đề cương là gì
+ mẫu ppt đại học cần thơ
+ quản trị khoản phải thu